Bản đồ vệ tinh Thị trấn Hưng Nguyên
Thị trấn Hưng Nguyên được thành lập ngày 15 tháng 9 năm 1998 theo Nghị định 73/1998/NĐ – CP của chính phủ về việc thành lập Thị trấn Hưng Nguyên thuộc huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của xã Hưng Thái và một xóm của xã Hưng Đạo. Là vùng đồng bằng chiêm trũng thuộc khu vực trung tâm huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, Thị trấn Hưng Nguyên cách trung tâm thành phố Vinh 5 km về phía Tây theo quốc lộ 46 (tức đường 49 trước đây).
- Phía Bắc giáp xã Hưng Tây
-Phía Nam giáp xã Hưng Tân
- Phía đông giáp xã Hưng Chính và Hưng Mỹ
- Phía Tây giáp xã Hưng Đạo     
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn Thị là 782,8 ha, có 2.137 hộ và 8.176 nhân khẩu được bố trí trên 17 đơn vị khối, từ khối 1 đến khối 17.

- Thuận lợi:  Thị Trấn Hưng Nguyến là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả huyện, có địa hình rộng, trình độ dân trí đồng đều. Giao thông thuận tiện, tình hình an ninh trật tự được giữ vững. Nền kinh tế ở đây khá phát triển, cơ sở hạ tầng ngày càng được xây dựng khang trang, bình quân thu nhập đầu người tăng đều hàng năm.
Người dân Thị trấn Hưng Nguyên có lối sống giản dị, cần cù, chăm chỉ. Đất đai ở đây hàng năm đều được bồi đắp bởi phù sa sông Lam nên phì nhiêu và màu mỡ, tạo điều nền kinh tế nông nghiệp phát triển. Ở đây có khoảng hơn 50% người dân sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, 45% sống bằng nghề dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp.
Về tôn giáo tín ngưỡng: Người dân nơi đây vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn với nhiều phong trào cách mạng tiêu biểu và đây cũng là cái nôi của phong trào cách mạng 1930-1931 trong thời kỳ chống Pháp. Hiện nay, trên địa bàn Thị trấn Hưng Nguyên vẫn còn dấu tích của phong trào, đó là khu di tích lịch sử văn hoá “Đài liệt sỹ cách mạng 1930-1931” là nơi yên nghỉ của các liệt sỹ đã hy sinh trong cao trào Xô Viết năm 1930.
Nơi đây, có di tích Đền Ngọc Điền được nhân dân xây dựng ngay trung tâm của làng Ngọc Điền thuộc khối 4, Thị trấn Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Đền được xây dựng từ thời Tiền Lê. Trải qua các thời kỳ lịch sử địa danh đã thay đổi nhưng những di tích vẫn ở vị trí ban đầu. Đền Ngọc Điền là nơi thờ Thành hoàng Cao Sơn, Cao Các và Thánh mẫu Liễu Hạnh, nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân làng Ngọc Điền ở Thị trấn Hưng Nguyên và các vùng lân cận. Ngoài ra, trong tiềm thức của người dân Thị trấn Hưng Nguyên còn tồn tại nhiều tín ngưỡng khác nhau như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ thần, hay tín ngưỡng vạn vật hữu linh….Những tín ngưỡng này nó cùng tồn tại song song với nhau và không hề có sự bài xích lẫn nhau.
- Khó khăn:  Thị trấn Hưng Nguyên thuộc tiểu vùng khí hậu nhiệt đới ở vùng ven biển Bắc miền Trung, quanh năm ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam, do vậy có sự khác biệt giữa hai mùa nóng và lạnh rõ rệt. Mùa hè, khí hậu nắng nóng, khô hạn. Mùa đông thì giá rét. Hàng năm, lại phải gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề của thiên tai, lũ lụt, hạn hán nên gặp nhiều khó khăn trong sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, do nằm trong vùng có đặc điểm khí hậu, thời tiết khắc nghiệt nên nhân dân Thị trấn Hưng Nguyên luôn thường trực ý thức chủ động chống lại thiên tai, tìm cách khắc phục khó khăn để xây dựng cuộc sống.
Là địa bàn giáp ranh với Thành Phố Vinh, cư dân ở đây không hoàn toàn là người bản địa, có nhiều thành phần dân cư nhập cư vào địa bàn. Vì vậy, nhận thức cũng như việc tuyên truyền phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng về Dân số - KHHGĐ gặp nhiều khó khăn.
II. TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ, KINH TẾ - XÃ HỘI:
Thị trấn Hưng Nguyên  là vùng có tiềm năng tài nguyên đất đai màu mỡ, bằng phẳng, hệ thống giao thông, thủy lợi nội đồng cơ bản hoàn thiện đáp ứng nhu cầu tưới, tiêu chủ động cho toàn bộ diện tích đất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế khá tốt trong sản xuất: Năm 2008, tổng sản lượng lương thực đạt 3.881 tấn, bình quân lương thực đạt 450kg/người/năm; Diện tích lúa là 368 ha, đạt 100% kế hoạch. Năng suất lúa đạt 10,7 tấn/ha. Diện tích trồng rau màu các loại đạt 20 ha. Thu nhập bình quân đầu người đến nay là 25 triệu đồng/người/năm.
Bên cạnh đó, ngành nghề dịch vụ phát triển mạnh đã thu hút lực lượng lao động tham gia hoạt động trên lĩnh vực này ngày một tăng. Đảng bộ chủ trương mở rộng các nghành nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và thương mại, tạo điều kiện để các doanh nghiệp và nhân dân mở các nhà hàng, các ốt kinh doanh, bán hàng tạp hóa nhằm cung ứng các mặt hàng thiết yếu cho bà con ở địa phương.
Đặc biệt, Thị trấn Hưng Nguyên đã làm tốt công tác xóa đói, giảm nghèo, tăng cường làm giàu, đến nay toàn Thị trấn chỉ còn còn lại khoảng 5% hộ nghèo.
Đảng bộ Thị Trấn có 21 chi bộ cơ sở trong đó có 17 chi bộ khối, 4 chi bộ khối trường học. Hàng năm, Đảng bộ xã được công nhận là Đảng bộ trong sạch vững mạnh; chính quyền, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Dưới sự lãnh đạo của BCH Đảng bộ, quản lý điều hành của chính quyền và công tác vận động quần chúng của Mặt Trận Tổ Quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, cùng với sự nỗ lực cố gắng của đội ngũ cán bộ và toàn thể nhân dân; Trong nhiều năm liền, Chính quyền và các ban ngành liên quan đến Mặt trận luôn nằm trong tốp đầu của huyện Hưng Nguyên.
Thị trấn là nơi có phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao chuyển biến rõ rệt. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư đã và đang thu được những kết quả tích cực. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, TDTT đã trở thành các sinh hoạt thường xuyên trong mỗi địa bàn dân cư, các trường học; Các thiết chế văn hóa tại cơ sở như Nhà văn hóa, cổng làng, sân chơi thể thao, hệ thống truyền thanh kỹ thuật số không dây, các cụm cổ động, panô áp phích.v.v..đã được đầu tư nâng cấp cơ bản đạt chuẩn từ Thị đến khối; các hoạt động y tế, giáo dục luôn được quan tâm chú trọng..Từng bước đưa đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân ngày càng nâng cao.
Toàn Thị trấn hiện có 10 khối đạt danh hiệu Làng văn hoá và 4 trường học đạt đơn vị văn hoá; tỷ lệ gia đình văn hoá đạt gần 80%, trên toàn Thị trấn có 3 trường học đã được công nhận là trường học đạt chuẩn quốc gia mức độ I. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội luôn được giữ vững.
Hệ thống cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật của địa phương được chú trọng đầu tư; 100% hệ thống giao thông trong toàn Thị trấn đã được bê tông hóa; các công trình như: Trụ sở làm việc của Thị trấn, hệ thống các trường học, trường mầm non Trạm y tế,… đều được xây dựng khang trang.
III. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TÁC DÂN SỐ - KHHGĐ:
1. Quá trình hình thành:
Năm 1998, Ban Dân số - KHHGĐ Thị trấn Hưng Nguyên được thành lập theo điều 6 của Nghị Định số 42/CP, ngày 21/6/1993 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức bộ máy và lề lối làm việc của Uỷ ban Quốc gia Dân số và Kế hoạch hóa gia đình do ông Nguyễn Văn Hảo - Chủ tịch UBND Thị trấn làm Trưởng ban từ năm 1998 – 2005. Bà Trần Thị Nhỏ làm cán bộ chuyên trách Dân số - KHHGĐ từ năm 1998 - 2005. Đến năm 2006, Ông Ngô Văn Đông, Phó Chủ tịch UBND Thị Trấn làm Trưởng ban Dân số - KHHGĐ Thị trấn, Bà Cao Thị Nhung làm cán bộ chuyên trách Dân số từ 2006 - 2010. Đến năm 2011, bà Hồ Thị Lê Na làm cán bộ chuyên trách Dân số - KHHGĐ. Đến tháng 9 năm 2013 bà Lương Thị Quỳnh – cán bộ Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện Hưng Nguyên được điều động tăng cường về Thị trấn làm công tác Dân số và đến ngày 14/3/2014, bà Nguyễn Thị Bình An trở thành viên chức Dân số - KHHGĐ xã theo Hợp đồng số 20 ngày 14/3/2014 của Chi cục Dân số/KHHGĐ tỉnh Nghệ An. Ông Ngô Văn Đông tiếp tục làm Trưởng ban Dân số cho đến nay. Các ông, bà trưởng các ban ngành, đoàn thể có liên quan và mạng lưới Cộng tác viên của 17 khối làm thành viên .
BCĐ thực hiện công tác Dân số-KHHGĐ thị trấn Hưng Nguyên
Ban chỉ đạo thực hiện công tác Dân số - KHHGĐ Thị trấn Hưng Nguyên từ năm 2012 đến ­nay, gồm các ông bà sau:
TT
Họ và tên
Chức vụ
Nhiệm vụ
1
Ngô Văn Đông
 Phó chủ tịch UBND Thị trấn
Trưởng ban
2
Lê Chí Tâm
Trạm trưởng trạm y tế
Phó  ban
3
Nguyễn Thị Bình An
Chuyên trách DS-KHHGĐ
Phó ban trực
4
Cao Việt Thương
Cán bộ Tư pháp -Hộ Tịch
Ban viên
5
Hồ Xuân Thời
Chủ tịch Hội CCB
Ban viên
6
Lê Đình Cát
Chủ tịch MTTQ
Ban viên
7
Nguyễn Văn Sinh
CB Văn hoá
Ban viên
8
Đàm Thị Bích Hạnh
CB Tài chính
Ban viên
9
Dương Xuân Tình
Văn phòng - Thống kê
Ban viên
10
Nguyễn Thị La
Chủ tịch Hội ND
Ban viên
11
Cao Thị Mai
Chủ tịch Hội LHPN
Ban viên
12
Hà Huy Thọ
Bí thư ĐTN
Ban Viên

Về mạng lưới cộng tác viên Dân số - KHHGĐ hiện nay như sau:
TT
Họ và tên
Khối
1
Lê Thị Mai
1
2
Hồ Thị Liên
2
3
Cao Thị Hà
3
4
Nguyễn Thị Hoàn
4,5
5
Hồ Thị Hảo
6
6
Hà Thị Hợi
7A
7
Võ Thị Oanh
7B
8
Nguyễn Thị Hoa
8
9
Nguyễn Thị Thái
9
10
Võ Thị Minh
10
11
Nguyễn Thị Cúc
11
12
Đinh Thị Cúc
12
13
Trần Thị Vinh
13
14
Trần Thị Xoan
14
15
Lê Thị Đông
15
16
Lương Thị Thơm
16
17
Cao Thị Lý
17
2. Tình hình phát triển Dân số qua các năm
2.1. Giai đoạn hình thành
Ngay từ đầu mới thành lập toàn Thị trấn có gần 2.000 hộ và khoảng gần 7.000 nhân khẩu, tỷ suất sinh thô 19,8%o, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 19%, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai là hơn 60%. Ở thời điểm này, công tác Dân số - KHHGĐ Thị trấn còn gặp nhiều khó khăn, số cộng tác viên ít nên khó khăn trong công tác tuyền truyền vận động, chất lượng dân số còn thấp, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trên 18%.
2.2. Giai đoạn 2006 đến 2010
Đây là thời kỳ đặt ra đặt ra nhiều vấn đề cấp bách cho ngành Dân số - KHHGĐ, mục tiêu cụ thể đặt ra là:
Thực hiện mục tiêu giảm sinh và giảm sinh con thứ 3, tiếp tục đạt mức sinh thay thế vào năm 2010.
Nâng cao hiểu biết, kiến thức, thái độ góp phần chuyển đổi hành vi về Dân số - KHHGĐ theo hướng có lợi và bền vững cho các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, kể cả người chưa kết hôn.
Tăng cường sự ủng hộ và cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo Đảng, chính quyền, tổ chức xã hội các cấp, những người có uy tín trong cộng đồng với công tác Dân số - KHHGĐ.
Nhờ những chính sách đúng đắn của Đảng và nhà nước, Được sự quan tâm của chính quyền và ý thức giác ngộ của đại bộ phận quần chúng nhân dân trong việc thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ nên đã có những bước tiến mạnh mẽ và đạt được nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực:
2.2.1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và điều hành
- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt đẩy mạnh thực hiện các văn bản như:
Pháp lệnh Dân số, ngày 9/1/2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Nghị định số 104/2003/NQ-CP, ngày 16/9/2003 của chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh Dân số; Chỉ thị chỉ đạo của cấp ủy Đảng đối với công tác Dân số, gia đình và trẻ em trong tình hình mới; Nghị quyết 47 - NQ -TW ngày 23/3/2005 của Bộ chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ. Quyết định số 09/2006/QĐ -TTg, ngày 10/1/2006 của thủ tướng chính phủ ban hành chương trình hành động thực hiện nghị quyết 47 NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ. Chương trình hành động số 145 ngày 14/11/2006 của UBND huyện Hưng Nguyên thực hiện Nghị quyết 47/NQ-TW của Bộ chính trị, chỉ thị số 49 - CT/TW của ban bí thư về lĩnh vực Dân số gia đình và trẻ em giai đoạn 2005 - 2010. Nghị quyết số 122/2005/NQ –HĐND - XV ngày 17/7/2005 của Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An khóa XV, kỳ họp thứ tư về một số chính sách Dân số - KHHGĐ. Quyết định số 105/2005/ QĐ - UBND ngày 19/12/2005 của UBND tỉnh Nghệ An ban hành một số chính sách Dân số - KHHGĐ trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Quyết định số 16/2006/QĐ - UBND ngày 21/7/2006 của UBND huyện Hưng Nguyên về việc quy định cụ thể một số chế độ chính sách Dân số - KHHGĐ trên địa bàn huyện Hưng Nguyên và một số văn bản khác của ngành Dân số - KHHGĐ từ Trung ương đến địa phương được triển khai hiệu quả bằng nhiều hình thức như: Đảng ủy triển khai sinh hoạt xuống các chi bộ, lồng ghép vào sinh hoat thường kỳ của Đảng bộ, sinh hoạt giao ban tổ chức đoàn thể, sinh hoạt khối, truyền thông trên các hệ thống truyền thanh…
- Công tác chỉ đạo điều hành
Đưa các chỉ tiêu giảm sinh, giảm sinh thứ 3 trở lên vào các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của UBND và các kỳ họp của Hội đồng nhân dân Thị trấn, đồng thời đề ra các biện pháp tổ chức thực hiện giao chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị khối.
Ra quyết định thành lập ban chỉ đạo thực hiện chiến dịch “ Tuyên truyền, vận động lồng ghép cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ”.
Đôn đốc thường xuyên, giám sát việc thực hiện ký cam kết thực hiện chính sách Dân số KHHGĐ theo quyết định 105 của UBND tỉnh Nghệ An.
 2.2.2. Về công tác truyền thông vận động
Đây là một nội dung quan trong trong chương trình hoạt động của Dân số - KHHGĐ. Do đó, ban DS-KHHGĐ đã chủ động phối hợp với các ban ngành, đoàn thể làm đa dạng các loại hình tuyên truyền, phối hợp với đài truyền thanh Thị trấn viết tin bài đưa tin hoạt động  công tác Dân Số trên địa bàn Thị trấn. Đặc biệt là đội ngũ CTV Dân Số ở các khối đã tổ chức tư vấn trực tiếp đối tượng tại hộ gia đình với phương châm “ Đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng” đã góp phần nâng cao nhận thức cho từng cặp vợ chồng trong việc xây dựng gia đình ít con, bình đẳng, ấm no, hạnh phúc.
Trên địa bàn Thị trấn hàng năm thường xuyên duy trì trên 30 câu khẩu hiệu, Pano, áp phích từ Thị đến khối có nội dung về Dân số - KHHGĐ.
Các câu lạc bộ thường xuyên được duy trì và sinh hoạt đều đặn thu hút được nhiều cặp vợ chồng tham gia.
2.2.3. Về lĩnh vực Dân số - KHHGĐ.
 a, Dân số
- Tổng số trẻ sinh ra năm 2005 toàn thị trấn là 103 cháu trong đó 41 cháu là nữ, 62 cháu là nam, tỷ lệ sinh  con thứ 3+ là 11,6%. Năm 2006, tổng số cháu sinh ra là 89 cháu, trong đó 36 cháu là nữ, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 7,8% . Giảm so với năm 2005 cả tổng sinh và sinh con thứ 3+. Năm 2007, toàn thị trấn có 106 sinh ra trong đó có 56 cháu là nữ, 6 cháu sinh ra là con thứ 3+. Năm 2008, có 89 cháu được sinh ra , trong đó 50 cháu là nữ, 2 cháu sinh ra là con thứ 3+.
-  Năm 2009, tổng số dân là 7.840 khẩu với 2.069 hộ; tỷ suất sinh thô 12,6%0; tăng 1,4%0 so với năm 2008 (năm 2008 là 11,2%0). Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên năm 2008 là 2,3%; năm 2009 là 9,1%.
-  Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi năm 2009 là 0%0.
- Thị trấn Hưng nguyên có 17 khối, trong đó năm 2008 có 15 khối không có người sinh con thứ 3 trở lên; Năm 2009, có 11 khối không có người sinh con thứ 3+
b, Về kế hoạch hóa gia đình.
Năm 2009, tổng số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có chồng là 1.243 người. Trong đó tổng số người sử dụng biện pháp tránh thai hiên đại đạt gần 90%;
Tính đến năm 2009, Thị trấn Hưng Nguyên đã có 1.238 cặp vợ chồng ký cam kết thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ theo Quyết định 105-QĐ/UBND của UBND tỉnh, đạt 99,1%.
Nhìn chung, công tác Dân số - KHHGĐ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng như kịp thời chỉ đạo thực hiện các văn bản của cấp trên, triển khai hiệu quả các hoạt động như ký cam kết; tổ chức chiến dịch; công tác truyền thông, vận động….Tuy nhiên, giai đoạn vẫn còn nhiều tồn tại như tỷ lệ sinh con thứ 3 ngày càng tăng nhanh; việc xử lý vi phạm chính sách Dân số - KHHGĐ chưa kịp thời; công tác truyền thông tổ chức chưa thực sự rộng khắp….
2.3. Giai đoạn từ 2010 đến 2013
Đây là giai đoạn thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về Dân số - KHHGĐ (2012 -2015) với mục tiêu chung là giảm sinh và sinh con thứ 3 trở lên; Thực hiện tốt các nội dung chăm sóc SKSS/KHHGĐ; Duy trì mức sinh thay thế từng bước ổn định quy mô dân số, củng cố và phát huy quy mô gia đình ít con, ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và phát triển bền vững.
2.3.1. Công tác truyền thông vận động
-  Thực hiện các đề án : Sàng lọc trước sinh, sơ sinh và mất cân bằng giới tính khi sinh. Hàng năm, ban Dân số - KHHGĐ đã tổ chức ít nhất một cuộc tư vấn cộng đồng, trên 10 cuộc tư vấn nhóm; thường xuyên đôn đốc CTV tổ chức tư vấn cho các hộ gia đình.
-  Hàng tháng cán bộ chuyên trách viết bài truyền thông để tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng ( Phát thanh được 8 lượt/tháng).
-  Duy trì và sinh hoạt đều đặn các câu lạc bộ. Hiện nay, Thị trấn Hưng Nguyên có 6 câu lạc bộ đang sinh hoạt.
- Hệ thống khẩu hiệu hiện nay đảm bảo mỗi khối 5 câu của 17/17 khối, đảm bảo chất lượng.
2.3.2. Lĩnh vực Dân số
Năm 2010, tổng số dân là 7.915; Đến năm 2013, dân số Thị trấn có 8.176 nhân khẩu với 2137 hộ.
- Tổng số sinh trong năm 2010 là 75 cháu; Năm 2011 là 121 cháu; Năm 2012 là 94 cháu, năm 2013 là 130 cháu. Trong đó con thứ 3 trở lên năm 2010 chiếm  5,3%; Năm 2013 là chiếm 13% , tăng 8,77% so với cùng kỳ năm 2012.
- Tỷ suất sinh năm 2012 là 8,7%0; năm 2013 là 15,5%0.
- Tỷ số giới tính là 106 bé trai/100 bé gái.
-  Số cặp vợ chồng đã ký cam kết thực hiện chính sách Dân số-KHHGĐ theo Quyết định số 76/2012/QĐ - UBND hiện nay đạt 98,6%. Tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại đạt trên 90%.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác Dân số - KHHGĐ giai đoạn này vẫn tồn tai nhiều vấn đề đó là : Việc tổ chức cho các cặp vợ chồng ký cam kết theo quyết định 76/2012 của UBND tỉnh Nghệ An đạt tỷ lệ cao. Nhưng ý thức chấp hành như đã ký là chưa đạt, tỷ lệ sinh con thứ 3 vẫn còn cao; Công tác thi đua ở các xóm, các đoàn thể là chưa rầm rộ. kinh phí đầu tư cho công tác còn nhiều hạn chế.
3. Số khối không có người sinh con thứ 3
Năm 2013, có 7 khối không có người sinh con thứ 3+, chiếm 41,1%.
Trong đó:
Khối đạt 1 năm không có người sinh con thứ 3: Khối 3; khối 14; khối 15.
Khối đạt 2 năm không có người sinh con thứ 3: Khối 2; khối 10.
Khối đạt 13 năm không có người sinh con thứ 3: Khối 17.
Khối đạt 16 năm không có người sinh con thứ 3: Khối 16.
IV. KẾT LUẬN
Thị trấn Hưng Nguyên là trung tâm kinh tế - chính trị - xã hội của huyện Hưng Nguyên, là vùng đất vốn giàu truyền thống cách mạng và nét đẹp văn hóa dân tộc. Trong những năm qua, Thị trấn Hưng Nguyên đã đạt được nhiều thành tích quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội; quốc phòng – an ninh. Trong đó, công tác Dân số - KHHGĐ đạt được nhiều thành tích xuất sắc góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Công tác Dân số - KHHGĐ đạt được nhiều thành quả to lớn đó là nhờ có đường lối đúng đắn của Đảng; sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của các cấp ủy chính quyền; Sự tham gia tích cực của các tổ chức đoàn thể và sự hưởng ứng nhiệt tình của toàn thể nhân dân… Trong đó, phải kể đến sự hy sinh tận tụy của đội ngũ làm công tác Dân số - KHHGĐ từ Thị đến Khối. Đây là những yếu tố đảm bảo cho sự thành công của công tác Dân số - KHHGĐ mà chúng ta cần tiếp tục giữ vững và phát huy trong thời gian tới.

Nguồn: Ban chỉ đạo thực hiện công tác Dân số - KHHGĐ Thị trấn Hưng Nguyên
Bản đồ vệ tinh xã Hưng Nhân
1.Vị trí địa lý, địa giới.
Hưng Nhân là xã trung tâm của 6 xã phía Đông Namcủa huyện Hưng Nguyên. Phía Namtiếp giáp với Hà Tĩnh, phía Bắc tiếp cận với xã Hưng Châu, phía tây tiếp giáp với xã Hưng Khánh. Cách thị trấn Hưng Nguyên khoảng 15km, là xã nằm hoàn toàn ngoài đê tả Lam, tổng diện tích đất tự nhiên là 646,64 ha trong đó đất nông nghiệp là 325,03 ha. Dân số hiện nay là 3.268 người sống trên địa bàn 9 xóm. Có 384 người sống theo đạo thiên chúa giáo sinh hoạt ở nhà thờ Phú Mỹ. 
Đời sống nhân dân chủ yếu bằng nghề nông và một số ngành nghề dịch vụ khác. Chính vì vậy, Đảng ủy, Chính quyền địa phương dồn hết khả năng để chỉ đạo nhân dân tăng gia sản xuất, mở mang ngành nghề phụ phát triển kinh tế tăng thu nhập bình quân đầu người. Với sự chỉ đạo cùng với sự nổ lực phấn đấu của cán bộ và nhân dân nên bộ mặt nông thôn xã Hưng Nhân đã có nhiều khởi sắc, đời sống nhân dân từng bước được nâng cao.
2. Đặc điểm tình chính trị, kinh tế xã hội
Về chính trị:
Dưới sự lãnh đạo của BCH Đảng bộ, quản lý điều hành của chính quyền và công tác vận động quần chúng của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, cùng với nổ lực cố gắng của đội ngũ cán bộ và toàn thể nhân dân, xã Hưng Nhân đang tích cực khơi dậy tiềm năng, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, xây dựng nông thôn mới.
Về lĩnh vực kinh tế:
 Hưng Nhân đã triển khai kế hoạch đồng bộ như: Bố trí hợp lý cơ cấu cây trồng theo hướng coi trọng hiệu quả kinh tế, tập trung thâm canh trên những diện tích chủ động nước, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, loại bỏ giống cũ, đưa các giống lúa việt  lai vào sản xuất cho năng suất lúa bình quân đạt 120,5tạ/ha. Tỷ lệ hộ nghèo là 14,9%, tỷ lệ gia đình đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa” là 87,5%.
          Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước; Thu nhập bình quân đạt 9.800.00đ/người; Tổng thu ngân sách đạt 2.478 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế : Nông nghiệp 56,4%, Công nghiệp-XDCB 27,2%, thương mại dịch vụ và du lịch 16,4%. Hưng Nhân còn rất quan tâm đến việc phát triển làng nghề. Do Nha là làng nghề truyền thống đan lát có cách đây vài trăm năm, được UBND tỉnh cấp bằng công nhận làng nghề đan lát từ năm 2004 đã góp phần giải  quyết việc làm tăng thu nhập cho hộ gia đình. Xã đang phấn đấu từ nay cho đến năm 2015 sẽ giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức thấp nhất.
Về lĩnh vực văn hóa xã hội:
Trên địa bàn xã có di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia Đền Rậm được xếp hạng năm 2009 và di tích lịch sử văn hóa nhà họ Phạm. Toàn xã có 3/9 xóm được UBND huyện công nhận làng văn hóa và 1 đơn vị trường học đạt chuẩn quốc gia. Công tác y tế, giáo dục  được xác định là mũi nhọn trong chiến lược phát triển chung của xã. Hiện nay toàn xã có 2 trường học mầm non và tiểu học, trạm y tế đều đã được kiên cố hóa. Hưng Nhân luôn chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe cho người dân. Thực hiện tốt công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân và công tác phòng chống dịch bệnh.
Về lĩnh vực quốc phòng- an ninh:
Công tác văn hóa xã hội có chuyển biến tiến bộ, quốc phòng an ninh tiếp tục được giữ vững, địa bàn sạch về ma túy mại dâm và các tệ nạn khác. Nhiệm vụ huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị - tư tưởng cho lực lượng vũ trang được thực hiện đầy đủ và nghiêm túc. Công tác quản lý quân sự dự bị động viên và gọi quân nhân lên đường nhập ngũ hàng năm đều  hoàn thành chỉ tiêu trên giao.
Tuy nhiên  vẫn còn đang gặp nhiều khó khăn:
- Là xã thuần nông, nằm hoàn toàn ngoài đê tả Lam, hàng năm phải đối mặt với nạn thiên tai lũ lụt đời sống càng gặp nhiều khó khăn, ít có điều kiện chăm sóc sức khỏe cũng như các vấn đề kinh tế xã hội khác.
- Vẫn còn quan niệm: “ Đông con hơn đông của ”; “ Trời sinh voi trời sinh cỏ” của một số bộ phận quần chúng nhân dân nên công tác tiếp cận truyên truyền gặp không ít khó khăn.

      3. Quá trình hình thành và phát triển của công tác Dân số-KHHGĐ:
Song song với các vấn đề về kinh tế văn hóa xã hội, công tác Dân số - KHHGĐ luôn được Đảng bộ và nhân dân đặc biệt chú trọng quan tâm. Với mục tiêu tập trung thực hiện giảm sinh đặc biệt là giảm sinh con thứ 3 trở lên, duy trì mức sinh thay thế  từng bước ổn định quy mô dân số. .
* Giai đoạn 1993-1998
 Quá trình  hoạt động gặp nhiều khó khăn và thách thức. Cơ cấu phát triển dân số còn bất hợp lý, đội ngũ làm công tác dân số chưa có kinh nghiệm,  bên cạnh đó công tác lãnh đạo, chỉ đạo còn xem nhẹ, chưa có các chỉ thị, nghị quyết về công tác Dân số- KHHGĐ, công tác tuyên truyền tư vấn cho các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ còn hạn chế, chưa phù hợp với từng nhóm đối tượng, truyền thông chưa gắn liền với vận động. Một phần nhân dân chưa nhận thức được trong việc thực hiện quy mô gia đình ít con.  Cho nên dẫn đến tỷ suất sinh là 20%o, tỷ lệ sinh còn thứ 3  chiếm 19,7%.  Bình quân một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có từ 3,6 con/phụ nữ. Tỷ lệ giới tính khi sinh là 105 bé trai/100 bé gái. Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sữ dụng BPTT hiện đại là 52%.
* Giai đoạn 1998 -2002
Công tác Dân số - KHHGĐ ở thời kỳ này gặp nhiều khó khăn như: Nguồn lực đầu tư cho công tác dân số quá hạn hẹp chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ và mục tiêu đạt ra trong công tác dân số. Tỷ lệ sinh và mức sinh chưa đạt mục tiêu đề ra, giảm sinh chưa vững chắc, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên vẩn cao, chất lượng dân số còn thấp. Công tác chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền chưa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo có lúc có nơi buông lỏng, xem nhẹ  thiếu kiểm tra và xử lý nghiêm. Công tác tuyên truyền, vận động giáo dục thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ chưa nhạy bén kịp thời, đội ngũ làm công tác dân số thiếu ổn đinh, chế độ chính sách còn thấp. Một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đang mang nặng tư tưởng, tâm lý đông con, nhiều cháu, có con trai để nối dõi tông đường. Dẫn đến tỷ  suất sinh là 18,9%o,  tỷ lệ  sinh con thứ 3 chiếm 17,9%. Bình quân một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có từ 2,3 con/phụ nữ. Tỷ lệ giới tính khi sinh là 100 bé trai/100 bé gái. Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sữ dụng BPTT hiện đại là 75 %.
* Giai đoan 2002-2008
Đến năm 2002 Ban dân số xã đổi tên thành Ban Dân số- Gia đình và Trẻ em theo Nghị Định số 94/CP, ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Dân số, Gia đình & Trẻ em. Ban Dân số - KHHGĐ, thực hiện nhiệm vụ trên 3 lĩnh vực Dân số- Gia đình - Trẻ em. Thời gian này sau khi có pháp lệnh dân số ra đời trên cơ sổ đó cùng với sự quan tâm lãnh đạo ,chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, phối kết hợp của các tổ chức đoàn thể, chính trị xã hội, sự tham gia hưởng ứng tích cực của nhân dân, đặc biệt là sự nổ lực cố gắng cố  gắng của đội ngũ làm công tác dân số từ xã đến xóm. Công tác tuyên truyền giáo dục được mở rộng và đẩy mạnh góp phần nâng cao nhận thức và hành động tích cực của toàn xã hội về công tác Dân số ,ngày càng nhiều cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ hưởng ứng và thực hiện mô hình gia đình ít con .Dẫn đến tỷ  suất sinh là 12,5%o,  tỷ lệ  sinh con thứ 3 chiếm 22 %. Bình quân một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có từ 1,86 con/phụ nữ. Tỷ lệ giới tính khi sinh là 135 bé trai/100 bé gái. Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sữ dụng BPTT hiện đại là 87 %.
* Giai đoạn 2008  đến nay
Năm 2008 Ban dân số xã kiện toàn lại bộ máy làm công tác dân số theo Thông tư 05/2008-BYT ngày 14/ 05/2008 của Bộ Y Tế và Quyết định số 38/2008/QĐ-UBND ngày 29/7/2008 của UBND tỉnh Nghệ An. Ban dân số xã lại quay về với tên gọi ban đầu là Ban Dân số - KHHGĐ xã. Thời kỳ này nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền và toàn xã hội về công tác Dân số - KHHGĐ đã có bước chuyển biến tích cực, quy mô gia đình có 1 hoặc 2 con ngày càng được phổ biến, chất lượng dân số ngày càng được nâng lên. Những kết quả đó góp phần quan trọng và sự phát triển kinh tế xã hội của xã nhà, tăng thu nhập bình quân đầu người hàng năm, xóa đói giảm nghèo nâng cao mức sống của nhân dân. Đây thực sự là một cố gắng rất lớn của các cấp, các ngành, tổ chức đoàn thể và đội ngũ cán bộ làm công tác dân số.
 Tuy nhiên chúng ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức không nhỏ trong việc thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ. Hệ thống văn bản chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước về công tác Dân số - KHHGĐ ban hành  thiếu kịp thời chưa đồng bộ, chế tài xử phạt các hành vi vi phạm chính sách Dân số - KHHGĐ chưa đầy đủ, thiếu sức mạnh giáo dục và răn đe cho nên xã nhà chúng ta mức sinh tuy giảm nhưng chưa vững chắc và còn cao. Tỷ lệ phát triển dân số và sinh con thứ 3 có xu hướng gia tăng. Đây là một bài toán khó đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết như nhà ở, học hành, khám chữa bệnh… Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đang ở mức báo động, chất lượng dân số tuy được nâng lên nhưng vẫn ở mức thấp. Từ khi thành lập đến nay bộ máy làm công tác Dân số thay đổi liên tục dẫn đến trong công tác hoạt động gặp nhiều khó khăn. Mặc dù bộ máy làm công tác dân số thay đổi nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của chính quyền, sự quan tâm vào cuộc của các ban ngành đoàn thể, sự đồng thuận của toàn thể nhân dân và sự nổ lực tận tình của đội ngũ làm công tác Dân số - KHHGĐ từ xã đến xóm nổ lực hết mình để phấn đấu phát huy tiềm năng thế mạnh trên mảnh đất thân yêu để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của xã nhà nhằm ổn định quy mô dân số, nâng cao chất lượng dân số, cơ cấu dân số, từng bước cải thiện thể chất trí tuệ và chất lượng giống nòi. Tạo ra nguồn nhân lực có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước góp phần vào phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo của xã nhà nhằm đạt mục tiêu “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. Thực hiện gia đình “ít con no ấm, bình đẳng tiến bộ hạnh phúc” phát triển bền vững.
Tính đến 31/03/2014  toàn xã có 893 hộ và 3280  nhân khẩu. Tỷ suất sinh là 4,5%0, tỷ lệ sinh con thứ 3 chiếm 20%.
Từ khi thành lập bộ máy làm công tác Dân số - KHHGĐ  tại địa phương đến nay (1993- 2013), công tác Dân số-KHHGĐ trên địa bàn xã Hưng Nhân đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của xã.
4. Quá trình hình thành tổ chức bộ máy của Ban chỉ đạo công tác Dân số - KHHGĐ ở xã. 
- Năm 1993 Ban Dân số - KHHGĐ xã Hưng Nhân được thành lập theo Nghị Định số 42/CP, ngày 21/6/1993 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức bộ máy và lề lối làm việc của Uỷ ban Quốc gia Dân số và kế hoạch hóa gia đình.             
- Từ 1993 đến nay bộ máy làm công tác Dân số có nhiều thay đổi từ Trưởng ban chỉ đạo đến cán bộ chuyên trách Dân số –KHHGĐ qua từng giai đoạn :

TT
Giai đoạn
Chức vụ
1
1993-1998
Bùi Hữu Thường
Chủ tịch UBND xã Kiêm trưởng ban
Nguyễn Văn Việt
Chuyên trách Dân số –KHHGĐ xã
2
1998-2002
Bùi Hữu Thường
Chủ tịch UBND xã Kiêm trưởng ban
Võ  Thị Minh
Chuyên trách Dân số –KHHGĐ xã
3
2002-2005
2005-2008
Hồ Văn  Niêm
Nguyễn Công Hoan
Chủ tịch UBND xã Kiêm trưởng ban

Võ Thị Minh
Chuyên trách Dân số-KHHGĐ
4
2008- 2013
2008-2011
Nguyễn Công Hoan
Chủ tịch UBND xã Kiêm trưởng ban
Phan Thị Kim Nhuận
Chuyên trách Dân Số-KHHGĐ xã
5
2012đến nay
Nguyễn Công Hoan
Chủ tịch UBND xã Kiêm trưởng ban
Võ Thị Ngọc Lan
Viên chức  Dân số-KHHGĐ xã
 - Mạng lưới cộng tác viên:
  Từ ngày đầu thành lập đến nay có 9 cộng tác viên. Mặc dù, trong từng giai đoạn có sự thay đổi, nhưng đội ngũ cộng tác viên làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, 100%  cộng tác viên đều được qua nhiều lớp đào tạo, tập huấn.
          - Thành phần Ban chỉ đạo công tác Dân số - KHHGĐ hiện nay:
TT
Họ và tên
Chức vụ
Nhiệm vụ
1
Nguyễn Công Hoan
 Chủ tịch UBND xã
Trưởng ban
2
Cao Văn Tiến
Trạm trưởng trạm y tế
Phó  ban
3
Võ Thị Ngọc Lan
Viên chức  DS/KHHGĐ
Phó ban trực
4
Nguyễn Văn Tín
Cán bộ Tư pháp -Hộ Tịch
Ban viên
5
Cao Văn Hồng
Chủ tịch Hội CCB
Ban viên
6
Bùi Khắc Tân
Chủ tịch MTTQ
Ban viên
7
Nguyễn Văn Chính
CB văn hoá
Ban viên
8
Nguyễn Thị Châu
CB Tài chính
Ban viên
9
Lê Thị Lài
Văn phòng - Thống kê
Ban viên
10
Hoa Dương Tùng
Trưởng công an
Ban viên
11
Bùi Huy Quang
Chủ tịch Hội ND
Ban viên
12
Hoa Thị Thủy
Chủ tịch Hội LHPN
Ban viên
13
Hoa Văn Hòa
Bí thư ĐTN
Ban Viên

          5. Thành tích khen thưởng  
Trong quá trình hoạt động của Ban Dân số - KHHGĐ xã Hưng Nhân đã đạt được những thành tích sau:
* Cấp xã: 
Năm 2011 được chủ tịch UBND huyện tặng giấy khen xã giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên.
* Cấp xóm:
- Năm 2011 Cán bộ và nhân dân xóm 3 được UBND huyện tặng giấy khen 5 năm liền không có người sinh con thứ 3 trở lên .
- Năm 2012 Cán bộ và nhân dân xóm 9 được UBND huyện tặng giấy khen 2 năm liền không có người sinh con thứ 3 trở lên.
   Tóm lại: Trong suốt  20 năm qua, xã Hưng Nhân  luôn duy trì  thực hiện tốt các mục tiêu Dân số ổn định, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đời sống của nhân dân từng bước được nâng lên và từng ngày thay đổi. Đảng bộ xã Hưng Nhân nhiều năm liền được xếp loại trong sách vững mạnh tiêu biểu, chính quyền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Cán bộ và nhân dân xã Hưng Nhân đang trên đà phấn đấu xây dựng thành công chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
Có thể nói rằng, bằng sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ của các ban ngành đoàn thể, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực cố gắng của đội ngũ của cán bộ chuyên trách và CTV Dân số-KHHGĐ ở cở sở cùng với ý thức tự giác của đại bộ phận nhân dân trong thực hiện chính sách Dân số-KHHGĐ nên công tác Dân số-KHHGĐ của xã nhà đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận góp phần không nhỏ vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo  xứng đáng với truyền thống quê hương của liệt sỹ Phạm Hồng Thái được Đảng nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân./.
                                             
Nguồn của Ban chỉ đạo công tác Dân số - KHHGĐ xã Hưng Nhân