Bản đồ vệ tinh xã Hưng Khánh
Với vị trí địa lý tự nhiên Hưng Khánh nằm bên cạnh sông Lam phía Đông Nam của Huyện Hưng Nguyên. Tiếp giáp với huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh; phía Bắc tiếp giáp xã Hưng Châu; phía đông tiếp giáp với xã Hưng Nhân; phía Tây tiếp giáp với xã Hưng Phú, Cách thị trấn Hưng Nguyên khoảng 15 km. Có tuyến đường du lịch ven Sông Lam nối khu du lịch Cửa Lò với quê hương Bác Hồ chạy qua xã Hưng Khánh.
      Hưng Khánh ngày nay gồm những phần đất đai của các làng Lộc Điền, Văn viên, Khánh Sơn và Phúc Xuyên, thuộc tống Văn viên Phủ Hưng Nguyên Trước đây, có Triều khẩu và chợ Tràng đô hội, Đây là Lỵ trấn Nghệ An từ hơn 500 năm về trước.

       Từ Cách mạng tháng Tám 1945 lại nay, đã có nhiều thay đổi về tên gọi qua nhiều lần sát nhập và chia tách. Từ xã Thành Lam năm 1946, đến xã Hưng Khánh “lớn” năm 1948, kéo dài từ núi Thành đến Bến Thuỷ, rồi năm 1954 lại chia tách thành 5 xã: Hưng Phú, Hưng Khánh, Hưng Nhân, Hưng Châu và Hưng Lợi. Đến năm 1969, hai xã Hưng Phú, Hưng Khánh lại sát nhập thành xã Hưng Thành và năm 1970 lại chia tách thành hai xã Hưng Phú và Hưng Khánh như ngày nay.
       Từ những năm 1960 Dân số có khoảng 1 vạn dân trên 320 ha đất tự nhiên. Năm 1963 do chính sách phân bổ dân cư của Đảng và Nhà nước, người dân Hưng Khánh đã chuyển khoảng 2 ngàn dân lên Huyện Nghĩa Đàn, khoảng 2 ngàn dân lên huyện Quỳ Hợp, 2 ngàn ra xã Hưng Yên huyện Hưng Nguyên. Năm 1983 HTX vận tải Hưng Khánh được chuyển về Phường Cửa Nam thành Phố Vinh kéo ra khoảng trên 2 ngàn dân. Dân số hiện nay trên địa bàn Hưng khánh có 1889 người, trong đó đi làm ăn xa và xuất khẩu Lao động ở nước ngoài là 157 người, hiện nay dân số thực tế có mặt là 1732 người, có 483 hộ chia thành 5 xóm.
        Hưng Khánh có khoảng 95% dân số trong xã sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, đất ruộng và đất bãi phù sa sông Lam. Bãi bờ sông Lam có phù sa bồi đắp mỗi mùa nước nổi, nên nguồn lợi lớn là trồng mía và lạc, do đó có thêm nghề ép lạc, ép dầu và trồng rau quả. 5% sống bằng nghề dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, nghề khác.
        Ngày nay, tận dụng được lợi thế vùng ven Sông Lam cùng với truyền thống nuôi bò vỗ béo, bò nái Lai sin nên phong trào chăn nuôi không ngừng phát triển ngày càng đi lên nhân rộng được nhiều mô hình kinh tế điển hình.
        Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, Hưng Khánh cũng có những khó khăn nhất định đó là: Với địa bàn là xã dân số ít nguồn thu chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.Là một xã nằm cạnh Sông Lam hàng năm phải gánh chịu những cơn mưa Đại Hồng Thuỷ đổ về gây lũ lụt, mất mùa.
        Hưng Khánh là một xã, an ninh, trật tự, an toàn xã hội rất đảm bảo, đó cũng là điều kiện tốt cho nhân dân yên tâm phát triển kinh tế. Là 1 xã thực hiện tốt quy chế 5 không. Hưng Khánh luôn giữ vững được môi trường lành mạnh, nhân dân không vi phạm pháp luật, không tệ nạn xã hội. Đặc biệt, Hưng Khánh là xã được công nhận xã sạch về ma tuý. Đồng thời xã Hưng Khánh 14 năm luôn được công nhận Đảng bộ trong sạch vững mạnh .
        Hưng Khánh có những đền đài uy nghi nổi tiếng như Đền Vua Lê, chùa Phúc Quang, Đền Đức Thánh Khổng, Đền Thánh Vương Bạch đế. Trước đây có chợ Tràng là vùng thị tứ nổi tiếng trong thời kỳ chống thực dân Pháp, là hậu phương quan trọng cung cấp người và vận chuyển vũ khí lương thực cho chiến trường Miền Nam, theo con đường thủy; trải qua 2 cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, không lực Hoa Kỳ đã ném xuống hàng vạn tấn bom, đạn, rốc két cày xới tan hoang xóm làng, chi chít hố bom. Nhưng dân nhất tề đứng dậy, một lòng theo Đảng, có biết bao đồng đội và những người dân vô tội đã anh dũng hy sinh, để dành lại độc lập tự do cho thế hệ ngày nay. Với những đóng góp to lớn trong những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước. Xã Hưng Khánh đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
        Tiềm năng đất đai, ao hồ được khai thác triệt để mở ra nhiều hướng làm ăn hiệu quả, tạo các mô hình kinh tế quy mô lớn, hiện Hưng Khánh có 8 mô hình chăn nuôi (Vườn Ao Chuồng kết hợp) thu lãi mỗi năm trên 400 triệu đồng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau luôn cao hơn năm trước. Năm 2013 thu nhập bình quân đầu người là 12.900.000đồng.
        Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm. Xã đã đầu tư xây dựng nhiều công trình phục vụ đời sông nhân dân. Xã đã có 1 trường học mầm non và 1 trường tiểu học; Trạm y tế đã được kiên cố hoá,  Nhà Bia tưởng  niệm các anh hùng liệt sĩ đã được xây dựng khang trang. Là 1 xã có truyền thống xây dựng nếp sống văn hoá: Có 5/5xóm đạt xóm văn hoá. Trong năm 2012 có từ 80-85% số gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá và 25-30% gia đình đạt danh hiệu gia đình thể thao. Hằng năm có nhiều xóm đạt xóm không có người sinh con thứ 3+. Năm 2010 xóm 1 xã Hưng Khánh đạt danh hiệu xóm 15 năm liền có người sinh con thứ 3+ . Xóm 2 đạt xóm 5 năm liền không có người sinh con thứ 3+ vào năm 2010. Năm 2013 xóm 2 đạt xóm 8 năm liền không có người sinh con thứ 3+.
        Với các kết quả chung của toàn xã trong nhiều năm qua, công tác Dân số-KHHGĐ luôn được cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân hết sức quan tâm. Công tác Dân số-KHHGĐ luôn được xác định là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội hàng đầu của quốc gia vì thế mà Đảng uỷ, UBND xã rất quan tâm tới công tác Dân số- KHHGĐ. Bên cạnh đó là Sự đoàn kết, phối hợp chặt chẽ của tất cả các Ban ngành đoàn thể. Sự quyết tâm phấn đấu vì thành tích chung của tập thể Ban Dân số - KHHGĐ từ những ngày đầu thành lập nên trong những năm qua đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện công tác Dân số- KHHGĐ.
        Cùng Đảng uỷ đã quán triệt trong toàn Đảng bộ Nghị quyết TW 4 khoá VII, ngày 14/01/1993 về việc hướng dẫn sinh đẻ cho người dân.
        UBND xã đã ban hành các quyết định, kế hoạch và các công văn triển khai công tác Dân số-KHHGĐ, chăm sóc Sức khỏe sinh sản, cùng nhiều văn bản chỉ đạo công tác phối hợp với các ban ngành đoàn thể. Vì vây, mà trong 20 năm qua công tác Dân số- KHHGĐ trên địa bàn xã Hưng Khánh đã giành được nhiều kết quả quan trọng và đạt được chỉ tiêu giảm sinh và giảm sinh con thứ 3+.
        Tiền thân là Uỷ ban dân số kế hoạch hoá ra đời năm 1993 đến năm 2002. Thời kỳ này những người làm công tác Dân số chủ yếu lấy vận động, truyên truyền, thuyết phục và khen thưởng là chủ yếu. Trải qua gần 10 năm với đội ngũ làm công tác Dân số - KHH. Hồi đó phụ cấp ít ỏi chỉ có 20.000đ/1 tháng trong điều kiện kinh tế nghèo nàn, trình độ dân trí chưa cao, chưa có chế tài xử phạt để đủ sức răn đe  nên tỷ lệ sinh, và sinh con thứ 3+vẫn còn cao kết quả đạt được qua các năm thể hiện rõ nét:
       Năm 1993 tỷ suất sinh thô 12,4%o; tỷ lệ sinh con thứ 3+ 22,6%, tỷ lệ sử dụng BPTT 77 %;
        Năm 1994 tỷ suất sinh 13,3%o, tỷ lệ sinh con thứ 3+ 23,4%0, tỷ lệ sử dụng BPTT 78,2 %;
        Năm 1995 tỷ suất sinh 11.88%o, tỷ lệ sinh con thứ 3+ 30,3%0, tỷ lệ sử dụng BPTT 78,8 %.
        Năm 1996 tỷ suất sinh 10,42%o, tỷ lệ sinh con thứ 3+ 5,2%, tỷ lệ sử dụng BPTT 80 %.
        Năm 1997 tỷ suất sinh 10,42%o, tỷ lệ sinh con thứ 3+ 10%, tỷ lệ sử dụng BPTT 80%;
        Năm 1998 tỷ suất sinh 9,04%o, tỷ lệ sinh con thứ 3+5,9%, tỷ lệ sử dụng BPTT 80,2 ;
       Năm 1999 tỷ suất sinh 5,91%o, tỷ lệ sinh con thứ 3+0% tỷ lệ sử dụng BPTT 80,3 %.;
        Năm 2000 tỷ suất sinh 6%0, tỷ lệ sinh con thứ 3+ là 0% tỷ lệ sử dụng BPTT 80,2%;
        Năm 2001 tỷ suất sinh 12,2 %o, tỷ lệ sinh con thứ 3+ 4,5%, tỷ lệ sử dụng BPTT 80,3 %;
        Năm 2002 tỷ suất sinh 9,3%o, tỷ lệ sinh con thứ 3+ 11,7%, tỷ lệ sử dụng BPTT 84,8 %.
        Năm 2003 thực hiện Nghị Định số 94/CP, ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Dân số, Gia đình & trẻ em. Ban Dân số-KHHGĐ xã Hưng Khánh được đổi thành Ban Dân số, Gia đình & trẻ em.       
        Đặc biệt là năm 2003 Pháp lệnh Dân số ra đời, ngày 09/01/2003, ban hành ngày 01/05/2003. Và ngày 16/9/2003 chính phủ có nghị định số 104/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn 1 số điều của Pháp lệnh Dân số. Pháp lệnh Dân số đà góp phần làm thể chế hoá quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về công tác Dân số-KHHGĐ. Cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, sự tham gia phối kết hợp của các cấp, các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội, sự hưởng ứng tích cực của các tầng lớp nhân dân, công tác Dân số - KHHGĐ của đạt được những kết quả quan trọng: Công tác tuyên truyền, vận động được đẩy mạnh; nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về công tác Dân số - Gia đình & TE được nâng cao; các hoạt động dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ đã được triển khai đồng bộ, có hiệu quả; tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai ngày càng tăng góp phần làm giảm tốc độ gia tăng dân số; tỷ lệ giảm sinh cơ bản đạt chỉ tiêu đề ra, kết quả này góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của x· nhàđược thể hiện qua số liệu sau:
        Năm 2003 tỷ suất sinh 8,26%0, tỷ lệ sinh con thứ 3+ là 0%. tỷ lệ sử dụng BPTT đạt 84%.
       Năm 2004 tỷ suất sinh 10,4%0, tỷ lệ sinh con thứ 3+ 15,7%, tỷ lệ sử dụng BPTT đạt 86,5%.
        Năm 2005 tỷ suất sinh 9,5%0, tỷ lệ sinh con thứ 3+ 12%. tỷ lệ sử dụng BPTT đạt 85%.
        Năm 2006 tỷ suất sinh 5,5%0, tỷ lệ sinh con thứ 3+ 0%, biện pháp tránh thai đạt 87%. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở mức 21%.
       Năm 2007 tỷ suất sinh 13,7%0, tỷ lệ sinh con thứ 3+ 8,6%, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng  18 %.
        Pháp lệnh dân số có tác động tích cực đến nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân. Tạo ra  một hành lang pháp lý trên địa bàn về ý thức của nhân dân trong việc chấp hành chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và và pháp luật Nhà nước, nó thể hiện rõ trách nhiệm của cá nhân, gia đình về Dân số-KHHGĐ. Xác định được quyền và nghĩa vụ của công dân đối với việc thực hiện chính sách Dân số -KHHGĐ. Do đó, được đại bộ phận nhân dân đồng tình, thực hiện. Đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức gương mẫu đi đầu trong phong trào, quy mô gia đình nhỏ đã được nhiều cặp vợ chồng lựa chọn. Tuy nhiên do một số người dân cố tình hiểu sai về Điều 10 của Pháp lệnh Dân số 2003. Từ năm 2007 tỷ lệ sinh con thứ 3+ tăng trở lại. Chất lượng dân số còn thấp chưa đáp ứng theo từng giai đoạn. Tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh có chiều hướng báo động. Chủ trương về chính sách để đáp ứng cho những người mà trước đây được coi là “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng” đã bắt đầu được Nhà nước quan tâm hơn.
         Bởi vậy, năm 2008 Ban Dân số, Gia đình & trẻ em xã Hưng Khánh đổi thành Ban Dân số - Kế hoạch hoá gia đình, theo Thông tư 05/2008/TT-BYT, ngày 14/5/2008 Về việc hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy Dân số-KHHGĐ ở địa phương. Kết quả giảm sinh và giảm sinh con thứ 3+ từ giai đoạn 2008 đến 2013 như sau:
       Năm 2008 tỷ suất sinh  8,2%o, tỷ lệ sinh con thứ 3+ 9,9 %.
        Năm 2009 tỷ suất sinh 14,3%o, tỷ lệ sinh con thứ 3+12,5 %.
        Năm 2010 tỷ suất sinh  9,3  %o, tỷ lệ sinh con thứ 3+ 18 %.
        Năm 2011 tỷ suất sinh 17,6%o, tỷ lệ sinh con thứ 310,3%.
        Năm 2012 tỷ suất sinh 11,5%o, tỷ lệ sinh con thứ 3+ 12%.
        Năm 2013 tỷ suất sinh  11,5, tỷ lệ sinh con thứ 3+ 5,2%
       Trong 3 tháng đầu năm 2014 tổng sinh 6 cháu, giảm 2 cháu so cùng kỳ 2013; tỷ suất sinh đạt 3,6 %0 giảm 3,6 %o so với cùng kỳ năm 2013; Con thứ 3 + 0 cháu giảm 2 cháu, tỷ lệ sinh con thứ 3 + giảm 10,5 % so cùng kỳ 2013.
Đến nay năm 2014 công tác Dân số - KHHGĐ đã dần ổn định công tác vận động ký cam kết thực hiện Chính sách Dân số - KHHGĐ theo Quyết định 76/2012 của UBND tỉnh Nghệ An đạt 99,1 %.
         Công tác dân số - KHHGĐ ở Hưng Khánh trong 20 năm hình thành, tổ chức thực hiện đã có những bước đi vững chắc. Nhận thức người dân chuyển biến tích cực, quy mô gia đình có 1 đến 2 con được người dân chấp nhận ngày càng nhiều; Tỷ lệ phát triển giữ mức ổn định 1%; Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai ngày càng tăng, góp phần làm giảm tốc độ gia tăng Dân số, tỷ lệ sinh cơ bản đạt chỉ tiêu. tỷ lệ sinh và sinh con thứ 3 trở lên giảm rõ rệt từ tỷ suất sinh năm 1993 là 12,4 %o đến nay chỉ còn 11,%o, tỷ lệ sinh con thứ 3+ năm 1993 là 22,6 %, năm  2013 còn 0 % ; Tỷ suất sinh đặc trưng năm 1993 là 2,8 con/phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nay chỉ còn 2con/ phụ nữ, không có trường hợp sinh con thứ 3+. Tỷ lệ mất cân băng giới tính khi sinh bình quân 110 BT/ 100BG. Tỷ lệ các bà mẹ mang thai và trẻ em sinh ra đều được sàng lọc để phát hiện, can thiệp một số dị tât bẩm sinh không đáng có. Chất lượng Dân số càng được nâng cao, người dân được chăm sóc sức khoẻ đầy đủ hơn; chương trình chăm sóc SKSS - KHHGĐ được triển khai thực hiện có hiệu quả.
       Công tác tuyên truyền vận động đã phối hợp nhiều hình thức tuyên truyền như sân khấu hoá, tư vấn cộng đồng, tư vấn nhóm, xây dựng các mô hình gương điển hình thực hiện tốt công tác Dân số, gương điễn hình thực hiện tốt chính sách dân số – KHHGĐ; Mô hình khẩu hiệu bờ tường, bờ rào, câu lạc bộ nội dung về Dân số góp phần thực hiện mục tiêu “Dân số ổn định xã hội phồn vinh gia đình hạnh phúc”. Thực hiện tốt công tác Dân số - KHHGĐ là mấu chốt quan trọng để phát triển kinh tế, Chính trị, văn hóa - xã hội ở địa phương nói riêng và trên toàn xã hội nói chung.
         Căn cứ vào hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác Dân số - KHHGĐ do Nhà nước ta quy định. Hình thành tổ chức bộ máy của ban chỉ đạo thực hiện công tác Dân số - KHHGĐ cấp xã. Xây dựng mạng lưới chuyên trách và đội ngũ cộng tác viên Dân số/ KHHGĐ có đủ năng lực, trình độ, tâm huyết với nghề để thực hiện nhiệm vụ đề ra là vấn đề cấp bách mà địa phương quan tâm. Hàng năm đã tổ chức kiện toàn kịp thời ban chỉ đạo thực hiện công tác Dân số-KHHGĐ theo từng giai đoạn công tác.
         Năm 1993, Ban Dân số - KHHGĐ xã Hưng Khánh được thành lập theo Nghị Định số 42/CP, ngày 21/6/1993 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức bộ máy làm việc của Uỷ ban Quốc gia Dân số - KHHGĐ. Đứng đầu là ông Trần Văn Thắng chủ tịch - UBND xã làm trưởng ban; Ông Trần Quốc Khánh làm chuyên trách dân số - KHHGĐ. Có 5 CTV là tuyên truyền viên dân số.
        Đến năm 2002 thực hiện Nghị Định số 94/CP, ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Dân số, Gia đình & trẻ em. Ban Dân số-KHHGĐ xã Hưng Khánh được đổi thành Ban Dân số, Gia đình & trẻ em. Do ông TrầnVăn Thắng Chủ tịch UBND xã làm Trưởng Ban, Ông Trần Quốc Khánh làm cán bộ chuyên trách Dân số-KHHGĐ lúc này mạng lưới CTV dân số - KHHGĐ là 5 người/5 xóm.
        Đến năm 2005 Ban Dân số- KHHGĐ xã Hưng Khánh do Ông Hoàng Văn Ái chủ Tịch UBND xã làm Trưởng ban, Bà Trần Thị Bích Quyên làm cán bộ chuyên trách Dân số-gia đình & trẻ em.
        Đến năm 2008 Ban Dân số, Gia đình & trẻ em xã Hưng Khánh được đổi thành Ban Dân số - KHHGĐ, theo Thông tư 05/2008/TT-BYT, ngày 14/5/2008 Về việc hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy Dân số/KHHGĐ ở địa phương. Do ông Trần Văn Tích Phó Chủ tịch UBND xã làm Trưởng Ban, bà Trần Thị Bích Quyên làm cán bộ chuyên trách Dân số-KHHGĐ, các ông, bà trưởng các ban ngành, đoàn thể có liên quan làm thành viên và mạng lưới cộng tác viên của 5 xóm.
        Ban chỉ đạo thực hiện công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình xã Hưng Khánh do có sự thuyên chuyển công tác nên cũng có sự thay đổi. Từ năm 2010 ­đến năm 2013. Do ông Hoàng Văn Ái chủ tịch UBND xã làm trưởng Ban bà Trần Thị Bích quyên làm chuyên trách Dân số - KHHGĐ.
        Do có sự thuyên chuyển nên Tháng 9/2013 ban chỉ đạo thực hiện công tác Dân số họp kiện toàn đứng đầu do ông Hoàng Đức Thông Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban, Bà Trần Thị Bích Quyên viên chức Dân số – KHHGĐ, các ông bà trưởng Ban ngành các đoàn thể liên quan làm thành viên Ban chỉ đạo công tác Dân số - KHHGĐ.

        Cán bộ chuyên trách Dân số - Kế hoạch hoá gia đình qua các thời kỳ:
Năm 1993 – 2005 Ông Trần Quốc Khánh
Năm 2006 – 2013 Bà Trần Thị Bích Quyên
        Để nhằm tăng cường công tác hoạt động công tác DS trong tình hình mới, tạo trẻ hoá đội ngũ cộng tác viên cũng như chuyên trách do tuổi đã cao do đó năm 2006 đã được bàn giao thế hệ mới. Năm 2006 đến nay Bà Trần Thị Bích Quyên làm chuyên Dân số – KHHGĐ. Với sự quan tâm của các cấp từ Trung ương đến địa phương, tháng 9/2013 chuyên trách Dân số - KHHGĐ xã đã được xét tuyển vào Viên chức theo Quyết định 77/ 2012, ngày 19 tháng 10 năm 2012. cùng với đội ngũ CTV mới vừa là Y tế viên của các đơn vị xóm do đó đã tạo được sự thuận lợi.
       Với những kết quả như vậy, hàng năm đều được Trung Tâm Dân số-KHHGĐ huyện Hưng Nguyên (tiền thân trước đây là ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em) đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
       Năm 1998 được Chủ tịch UBND Tỉnh tặng giấy khen cho tập thể và nhân dân xã Hưng Khánh về hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
       Năm 2000 được Chủ tịch UBND Huyện Hưng Nguyên tặng giấy khen cho nhân dân và cán bộ xã Hưng Khánh Đã có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác Dân số, Gia đình & trẻ em
       Năm 2006 được UBND tỉnh tặng giấy khen cho tập thể và nhân xã Hưng Khánh là xã không có người sinh con thứ 3+.
       Năm Năm 2010 Chủ tịch UBND Huyện Hưng Nguyên tặng giấy khen khen đã có nhiều thành tích trong công tác Dân số-KHHGĐ góp phần giảm nhanh tỷ lệ sinh con thứ 3 +.
       Tháng 7/2013 đã được UBND huyện tặng bằng khen cho cán bộ và nhân dân xã Hưng Khánh đã có thành tích xuất sắc trong 10 năm thực hiện pháp lệnh Dân số.
        Năm 2013 đã được UBND huyện tặng bằng khen cho cán bộ và nhân dân xã Hưng Khánh đã có thành tích xuất sắc giảm nhanh tỷ lệ sinh con thứ 3+
        Năm 2006 đơn vị xóm 1 xã Hưng Khánh đạt thành tích 10 năm liền không có người sinh con thứ 3+.
         Năm 2006 đơn vị xóm 2 xã Hưng Khánh đạt thành tích 2 năm liền không có người sinh con thứ 3+.
              Năm 2010 đơn vị xóm 1 xã Hưng Khánh đạt thành tích 15 năm liền không có người sinh con thứ 3+.
        Năm 2010 đơn vị xóm 2 xã Hưng Khánh đạt thành tích 5 năm liền không có người sinh con thứ 3+.
        Năm 2013 đơn vị xóm 2 xã hưng khánh đạt thành tích 8 năm liền không có người sinh con thứ 3+, đơn vị xóm 3 đạt 3 năm liên không có người sinh con thứ 3+ được UBND huyện tặng giấy khen.
         Dân số ổn định, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đời sống của nhân dân từng bước được nâng lên. Hưng Khánh hôm nay không còn một bóng nhà tranh, đường sá đã trải bê tông, xe du lịch có thể ghé tận cửa gia đình. Cuộc sống của người dân nơi đây đang từng ngày đổi thay. Với việc ổn định bộ máy làm công tác Dân số trong thời gian vừa qua. Trong thời gian tới, cùng với sự quan tâm của cấp Uỷ Đảng, chính quyền công tác Dân số - KHHGĐ sẽ gặt hái được nhiều thành công mới, nhiều thắng lợi mới./.

         Nguồn của Ban chỉ đạo thực hiện công tác Dân Số - KHHGĐ xã
Chiều ngày 05/6/ 2014, đồng chí Nguyễn Thị Hồng Hoa, Phó giám đốc Sở Y tế, Chi cục trưởng Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh Nghệ Ancùng đồng chí  Hồ Sơn, chánh thanh tra Sở y tế, phụ trách Hưng Nguyên có buổi làm việc với các đơn vị thuộc ngành Y tế huyện Hưng Nguyên.
Tham dự buổi làm việc có đồng chí Đặng Mạnh Bình, Giám đốc Bệnh viện đa khoa;  Phó giám đốc, Trưởng phòng Kế hoạch, Tổ chức hành chính bệnh viện đa khoa; Đồng chí Nguyễn Đình Thanh, Giám đốc cùng đồng chí phó bí thư Chi bộ  Trung tâm Y tế huyện; đồng chí Nguyễn Kim Bảng, Giám đốc cùng các đồng chí Trưởng Ban HC-TH, Ban Truyền thông-GD Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện.
Tại buổi làm việc, Thủ trưởng các đơn vị thuộc ngành Y tế huyện báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị mình 5 tháng đầu năm 2014 và định hướng công tác 7 tháng cuối năm 2014.
Bác sỹ Đặng Mạnh Bình, GĐ Bệnh viện Đa khoa huyện báo cáo kết quả thực hiện
5 tháng đầu năm 2014- Ảnh Kim Bảng
Đồng chí Nguyễn Thị Hồng Hoa, Phó giám đốc Sở Y tế, cùng đồng chí  Hồ Sơn, Chánh thanh tra Sở y tế Nghệ An, làm việc với các đơn vị thuộc ngành Y tế Hưng Nguyên. Ảnh Kim Bảng

Đồng chí Nguyễn Kim Bảng, Giám đốc Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện đã báo cáo nên rõ kết quả thực hiện 5 tháng  đầu năm 2014 của đơn vị mình như:
- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu và quản lý điều hành, tổ chức thực hiện rất quyết liệt. Ban hành nhiều văn bản lãnh đạo của Cấp ủy, chỉ đạo của UBND kịp thời và sát với tình hình thực thế của huyện. Ban Chỉ đạo thực hiện công tác Dân số-KHHGĐ được kiện toàn và hoạt động theo quy chế khá đồng bộ và trách nhiệm.
- Công tác phối hợp thực hiện chính sách Dân số-KHHGĐ của các phòng, ban ngành, đoàn thể liên quan rất tốt. Có chương trình kế hoạch phối hợp cụ thể giữa Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện với các tổ chức;  tạo được sự đồng thuận cao trong mọi tầng lớp nhân dân.
- Công tác truyền thông, vận động; chăm sóc SKSS/KHHGĐ, tư vấn dịch vụ KHHGĐ; thực hiện chiến lược truyền thông chuyển đổi hành vi về Dân số, SKSS/KHHGĐ rất chủ động, đón đầu với nội dung phong phú và hình thức đa dạng, linh hoạt; từ truyền thông thường xuyên, sự kiện, chuyên đề.....đều được chú trọng. Nổi bật là đối thoại trực tiếp với nhân dân (6/5/2013), truyền thông sông nước (22/01/2014), duy trì hệ thống khẩu hiệu (có hơn 1.265 ) thông điệp về Dân số-KHHGĐ ở tất cả các xóm, khối (5 câu khẩu hiệu), đồng loạt phát thanh trên hệ thống truyền thanh cơ sở vào ngày thứ 5 hàng tuần. Tư vấn cộng đồng, tư vấn nhóm, hộ gia đình rất quyết liệt. Đặc biệt, có trang thông tin điện tử Dân số Hưng Nguyên ra mắt từ tháng 7/2013 và ngày càng phát triển, đến naygần 68.000 lượt truy cập của độc giả.
- Việc triển khai thực hiện Chỉ thị 09-CT/TU, ngày 19/9/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghi quyết 20-NQ/TU ngày 26/6/2009 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác Dân số-KHHGĐ trong tình hình mới và Quyết định số 76/2012/QĐ-UBND, ngày 19/10/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An về việc Ban hành Quy định một số chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh Nghệ  An được huyện chú trọng.
- Kết quả về các chỉ số Dân số-KHHGĐ đã giảm đáng kể:
+ Tổng số trẻ em sinh là 634  trẻ, giảm 214 trẻ so với cùng kỳ (cùng kỳ năm 2013 848 trẻ). Trong đó, số trẻ nam sinh ra là: 342 trẻ. Tỷ số giới tính khi sinh từ tháng 1 đến 30/5/ 2014 là 117 bé trai/100 bé gái.
Trong đó, số trẻ em ra là con thứ 3 trở lên là  120 trẻ, giảm 35 trẻ so với cùng kỳ (năm 2013 là 155 trẻ). Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên hiện nay là: 18,9%.
Đến hết tháng 5 năm 2014 số cán bộ, Đảng viên vi phạm chính sách Dân số - KHHGĐ có 11 trường hợp (trong đó: ngành giáo dục 4, Y tế: 01)
+ Số xóm, khối chưa có người sinh con thứ 3 trở lên là 129 xóm, khối, so với năm 2013 (96 xóm, khối) tăng 33 xóm, khối. Đến nay, có 2 xã chưa có người sinh con thứ 3 trở lên (Hưng Tiến và Hưng Khánh).
  - Về Kế hoạch hóa gia đình: Tính đến 31/5/2012, toàn huyện đã thực hiện được 3.686/3.872ca KH giao (đạt tỷ lệ 95%) về biện pháp tránh thai. DCTC 469/664 KH giao đạt 70%; Triệt sản 8/24 KH giao đạt 33%; TTTT 553/ 325 KH đạt 170%; Thuốc cấy tránh thai 6/37 KH giao đạt 16%; Thuốc uống tránh thai 1.250/1.065 KH giao đạt 117%; Bao cao su 1.400/1.769 KH giao đạt 79%.
- Về thực hiện chiến dịch “ Tăng cường truyền thông vận động lồng ghép dịch vụ Dân số/SKSS/KHHGĐ” năm 2014 mặc dù không được tỉnh hỗ trợ, nhưng huyện và xã đã cố gắng đầu tư, hỗ trợ kinh phí để triển khai được ở tất cả các xã, thị trấn.
- Việc triển khai các đề án nâng cao chất lượng dân số được quan tâm đúng mức và có kết quả tích cực; Tỷ số giới tính khi sinh giảm ( năm 2011: 140BT/100BG; 2012: 137BT/100BG; 2013: 124BT/100BG; 5 tháng đầu năm 2014: 117BT/100BG)
Việc triển khai  đề án sàng lọc trước sinh và sơ sinh tại các xã, thị trấn đã nhận được sự quan tâm ủng hộ của cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, phụ nữ đang mang thai; đến 31/5/2013: số ca sàng lọc trước sinh 102/58 ca KH giao đạt 175% , kết quả chưa phát hiện thấy bất thường; số ca sàng lọc sơ sinh 79/100 ca KH giao đạt 79%.
- Công tác tổ chức cán bộ, cải cách hành chính.
Đội ngũ cán bộ Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện đủ điều kiện về năng lực để đảm nhiệm công việc được giao. Đội ngũ Viên chức Dân số-KHHGĐ xã, thị trấn cơ bản đã được cũng cố và làm việc theo cơ chế viên chức nhà nước được Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện cùng cấp xã quản lý và làm việc khá nghiêm túc.
Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền và sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành đoàn thể liên quan, đặc biệt là sự nổ lực phấn đấu của cán bộ làm công tác Dân số - KHHGĐ từ xã, thị trấn, xuống xóm, khối; công tác Dân số - KHHGĐ vẫn được phát huy và hiệu quả. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Sau khi nghe các đơn vị báo cáo và phân tích giải trình rõ một số vấn đề liên quan; đồng chí Nguyễn Thị Hồng Hoa, Phó giám đốc Sở Y tế, Chi cục trưởng Chi cục Dân số-KHHGĐ tỉnh đã đánh giá cao những kết quả đạt được của các đơn vị, chia sẽ những khó khăn vướng mắc và một số vấn đề cần lưu ý khắc phục trong thời gian tới cũng như những đề xuất kiến nghị để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị trên địa bàn huyện./.

 HongDiep(TTDS)

ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN
HUYỆN UỶ HƯNG NGUYÊN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
*
Số  95 - KH/HU
 Hưng Nguyên, ngày  19  / 5 / 2014



KẾ HOẠCH
Sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TU, ngày 26/06/2009 của
Ban Thường vụ tỉnh ủy về tiếp tục đẩy mạnh công tác
Dân số - Kế hoạch hóa gia đình trong tình hình mới
 


I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU:
- Đánh giá kết quả 5 năm (2009-2013) thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TU, ngày 26/6/2009 của Ban Thường vụ tỉnh ủy về tiếp tục đẩy mạnh công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình trong tình hình mới; Từ đó đề ra mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện trong thời gian tới, nhằm hoàn thành chỉ tiêu Nghị quyết đã đề ra.
- Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí và tầm quan trọng của công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Dân số - KHHGĐ).
- Biểu dương, khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc, tăng cường việc học tập, trao đổi kinh nghiệm và nhân rộng những điển hình trong thời gian tới.
- Việc tổ chức sơ kết nghiêm túc, thiết thực, chất lượng và hiệu quả, đúng thời gian quy định.
II. NỘI DUNG SƠ KẾT
1. Đánh giá công tác triển khai, quán triệt Nghị quyết:
- Việc tổ chức quán triệt Nghị quyết số 20-NQ/TU, ngày 26/6/2009 của Ban Thường vụ tỉnh ủy về tiếp tục đẩy mạnh công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình trong tình hình mới; Các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước liên quan đến công tác Dân số - KHHGĐ cũng như các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của của cấp trên về công tác Dân số-KHHGĐ  từ huyện đến cơ sở.
- Cấp ủy, chính quyền đã ban hành những văn bản gì để chỉ đạo thực hiện Nghị quyết.
- Đầu tư ngân sách, huy động các nguồn lực để triển khai thực hiện Nghị quyết.
- Xây dựng kế hoạch, công văn phối hợp liên ngành giữa các ban ngành đoàn thể trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết.
2. Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết (chỉ ra các chỉ tiêu đạt và chưa đạt):
2.1.  Kết quả đạt được:
- Các chỉ tiêu về tỷ lệ sinh, sinh con thứ 3 trở lên.
- Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên.
- Số xóm không có người sinh con thứ 3 trở lên.
- Tỷ lệ chấp nhận các BPTT hiện đại.
- Tỷ số giới tính khi sinh.
- Kết quả về công tác truyền thông, vận động.
2.2. Tồn tại khuyết điểm và nguyên nhân:
- Tồn tại, khuyết điểm:
- Nguyên nhân tồn tại, khuyết điểm:
3. Rút ra bài học kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện Nghị quyết.
4. Nhiệm vụ và giải pháp trong thời gian tới.
5. Đề xuất các kiến nghị để thực hiện Nghị quyết tốt hơn trước yêu cầu mới.
III. TỔ CHỨC HỘI NGHỊ SƠ KẾT
1. Chương trình hội nghị:
- Báo cáo sơ kết Nghị quyết số 20-NQ/TU của BTV Tỉnh ủy; đề ra mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp giai đoạn 2014-2015 và trong những năm tiếp theo (Có đề cương kèm theo).
- Tham luận, trao đổi ý kiến.
- Phát biểu chỉ đạo cấp trên.
- Khen thưởng những tập thể, cá nhân điển hình thực hiện tốt Nghị quyết.
2. Thành phần:
* Đối với các tổ chức cơ sở đảng:
- Các xã, thị trấn:
Chủ trì: Thường trực Đảng ủy xã, thị trấn.
+ Thường trực Đảng ủy, HĐND, UBND, các ban ngành đoàn thể xã;
+ Ban chi ủy các chi bộ, trưởng thôn, viên chức Dân số - KHHGĐ, các cộng tác viên Dân số-KHHGĐ và BCH các chi hội ở xóm, khối,
+ Các câu lạc bộ và các cá nhân được khen thưởng.
- Đối với các cơ quan, đơn vị:
+ Chủ trì: Bí thư đảng ủy, Bí thư chi bộ; thủ trưởng cơ quan đơn vị
+ Toàn thể cán bộ, đảng viên của đảng bộ, chi bộ.
* Hội nghị ở cấp huyện:
Chủ trì: Thường trực Huyện ủy.
+ Đại diện Tỉnh ủy.
+ Lãnh đạo, Trưởng các phòng ban chuyên môn Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh;
+ Thường trực Huyện ủy, HĐND;
+ Lãnh đạo UBND huyện;
+ Bí thư các TCCSĐ trực thuộc;
+ Trưởng các ban, ngành đoàn thể cấp huyện;
+ Chủ tịch UBND, Trưởng ban chỉ đạo thực hiện công tác Dân số - KHHGĐ cấp xã;
+ Viên chức Dân số - KHHGĐ các xã, thị trấn.
3. Thời gian:
- Cấp xã, thị trấn hoàn thành trước ngày 20/06/2014
- Cấp huyện hoàn thành trước ngày 10/07/2014
Các tổ chức cơ sở đảng thực hiện hội nghị sơ kết Nghị quyết và gửi báo cáo về Huyện ủy (qua Ban Tuyên giáo Huyện ủy) trước ngày 25/06/2014.

Nơi nhận:
- Ban TV Tỉnh uỷ;
- Thường trực HU, HĐND, UBND huyện;
- Chủ tịch, các PCT UBND huyện;
- MTTQ và Các đoàn thể cấp huyện;
- Các phòng, Ban, ngành cấp huyện;
- Các TCCSĐ trực thuộc;
- Chánh, phó VPHU;
- Lưu VPHU.
T/M BAN THƯỜNG VỤ
PHÓ BÍ THƯ THƯỜNG TRỰC

( Đã ký)


Hồ Sỹ Thắng






(Dansohungnguyen.com). Ngày 02/6/2014, Đồng chí Phạm Quốc Việt, Ủy viên Ban Thường vụ huyện ủy; Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyên kiêm Trưởng Ban chỉ đạo thực hiện công tác Dân số - KHHGĐ huyện thay mặt Ủy ban nhân huyện đã có Công văn số 396/UBND Tiếp tục triển khai có hiệu quả chính sách Dân số-KHHGĐ trên địa bàn huyện. Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện Hưng Nguyên xin giới thiệu nguyên văn nội dung văn bản nói trên để tiện theo dõi và tổ chức thực hiện.




ỦY BAN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Số: 396 /UBND

Hưng Nguyên, ngày  02 / 6 / 2014

V/v Tiếp tục triển khai có hiệu quả chính sách Dân số-KHHGĐ trên địa bàn huyện

 


       

Kính gửi:
-         Chủ tịch UBND các xã, thị trấn;
-         Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, trường học.

Trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện các văn bản về chính sách Dân số- KHHGĐ như: Nghị quyết số 20-NQ/TU, ngày 26/6/2009 và 2 năm thực hiện Chỉ thị 09-CT/TU, ngày 19/9/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình (Dân số-KHHGĐ) trong tình hình mới; Quyết định số 76/2012/QĐ-UBND, ngày 19/10/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An; Thông tri số  08-TTr/HU, ngày 16/10/2012 của Ban Thường vụ Huyện ủy; Quyết định số 01/2013/QĐ-UBND của UBND huyện Hưng Nguyên nên công tác Dân số - KHHGĐ có sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ: tỷ lệ sinh đã giảm so với nhiều năm trước đây; các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể từ huyện đến cơ sở có sự quan tâm tích cực và rõ nét hơn đối với công tác Dân số - KHHGĐ; tạo được dư luận xã hội ủng hộ rộng rãi góp phần thúc đẩy việc thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ trên địa bàn huyện theo hướng tích cực.
Tuy nhiên, công tác Dân số - KHHGĐ của huyện vẫn còn những khó khăn, thách thức: kết quả đạt được chưa thực sự vững chắc và đồng đều giữa các vùng trong huyện; Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên vẫn còn cao, nhất là vùng giáo dân, vùng sông nước và tiềm ẩn nguy cơ bùng phát trở lại; Tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh còn rất cao; chất lượng dân số vẫn còn thấp. Một số địa phương, cơ quan, đơn vị chưa thật sự tích cực và quyết liệt trong chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ; Việc xử lý vi phạm chính sách Dân số - KHHGĐ một số nơi còn lúng túng, thiếu kịp thời, chưa nghiêm túc; cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu trong việc thực hiện chính sách Dân số-KHHGĐ vẫn còn xẩy ra và thậm chí gia tăng ở một số xã, cơ quan, đơn vị, ảnh hưởng không nhỏ đến việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ.
Để thực hiện tốt các mục tiêu, chỉ tiêu và các quy định về chính sách Dân số - KHHGĐ trên địa bàn huyện, Ủy ban nhân dân huyện Hưng Nguyên yêu cầu Chủ tịch UBND các xã, thị trấn, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, trường học trên địa bàn huyện tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả một số nội dung trọng tâm sau:
1. Quyết liệt hơn trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chính sách Dân số - KHHGĐ, khắc phục ngay tình trạng buông lỏng, thiếu kịp thời và chưa nghiêm túc trong lãnh đạo, chỉ đạo và nhất là phải xây dựng kế hoạch có giải pháp cụ thể để tập trung giải quyết triệt để những tồn tại đã nêu ở trên.
Tiến hành đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TU, ngày 26/6/2009 và 2 năm thực hiện Chỉ thị 09-CT/TU, ngày 19/9/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác Dân số-KHHGĐ trong tình hình mới; Rà soát lại các nhiệm vụ và giải pháp về công tác Dân số - KHHGĐ, gắn và lồng ghép với nhiệm vụ chính trị của ngành, địa phương để tập trung triển khai có hiệu quả.
2. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nghiêm túc Quyết định số 76/2012/QĐ-UBND, ngày 19/10/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An về việc Ban hành Quy định một số chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh Nghệ  An. Tập trung nỗ lực phấn đấu đạt được phương án giảm nhanh tỷ lệ sinh, đặc biệt là giảm nhanh tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, tiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý, duy trì mức sinh thay thế và từng bước nâng cao chất lượng dân số.
Các ngành, các cấp phải coi việc thực hiện mục tiêu này là một trong những nhiệm vụ của ngành, cấp mình, coi việc thực hiện KHHGĐ là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá thi đua đối với các tập thể và cá nhân hàng năm; tăng cường chỉ đạo đối với cán bộ đảng viên, đoàn viên, hội viên và toàn thể nhân dân thực hiện tốt chính sách Dân số - KHHGĐ. Tổ chức ký cam kết đối với các đơn vị và các cặp vợ chồng, cá nhân trong độ tuổi sinh đẻ theo Quyết định số 76/2012/QĐ-UBND, ngày 19/10/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh và triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, có hiệu quả.
3. Tăng cường công tác truyền thông, vận động Dân số - KHHGĐ với nhiều hình thức, cách làm đa dạng, phù hợp với mục tiêu, đối tượng, vùng đặc thù. Phối hợp lồng ghép chương trình Dân số - KHHGĐ với các cuộc vận động khác của các ngành, các đoàn thể xã hội như phong trào xây dựng nông thôn mới, phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư… làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu và nhận thức đầy đủ những khó khăn, thách thức về công tác Dân số - KHHGĐ trong tình hình mới; các quy định của Đảng và Nhà nước trong việc chấp hành chính sách Dân số - KHHGĐ.
4. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để phát hiện và khắc phục kịp thời những sai phạm hoặc những vấn đề phát sinh trong công tác Dân số - KHHGĐ. Xử lý nghiêm, kịp thời đối với cán bộ, đảng viên và các cá nhân vi phạm chính sách Dân số - KHHGĐ.
5. Tiếp tục phối hợp để củng cố và hoàn thiện hệ thống tổ chức làm công tác Dân số - KHHGĐ từ huyện đến cơ sở, chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức hoạt động trong hệ thống. Quan tâm đến chất lượng, hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ viên chức Dân số - KHHGĐ xã, thị trấn và cộng tác viên Dân số - KHHGĐ ở xóm, khối để đội ngũ này làm tốt chức năng, nhiệm vụ.
UBND các xã, thị trấn bố trí nơi làm việc và tạo các điều kiện làm việc thuận lợi, hỗ trợ trang thiết bị, cơ sở vật chất đảm bảo cần thiết (bàn, ghế, tủ…) cho cán bộ viên chức Dân số - KHHGĐ xã theo quy định tại Nghị quyết số 53/2012/NQ-HĐND ngày 13/7/2012 của HĐND tỉnh và Quyết định số 77/2012/QĐ-UBND, ngày 19/10/2012 của UBND tỉnh Nghệ An về việc bố trí cán bộ chuyên trách Dân số - KHHGĐ.
6. Phòng y tế, Trung tâm Y tế, Bệnh viên đa khoa huyện tập trung chỉ đạo, tạo mọi điều kiện để nâng cao chất lượng dịch vụ KHHGĐ đối với các biện pháp tránh thai lâm sàng, đảm bảo kịp thời, an toàn, thuận lợi cho các đối tượng thực hiện KHHGĐ, nhất là đồng bào ở các vùng sông nước, vùng khó khăn và vùng có đông giáo dân.
Mở rộng phương thức cấp phát các phương tiện tránh thai phi lâm sàng (bao cao su, viên uống tránh thai...) thông qua hệ thống cộng tác viên Dân số - KHHGĐ đến từng hộ gia đình. Đẩy mạnh chương trình tiếp thị xã hội (bán với giá thấp có trợ giá của nhà nước) một số loại phương tiện tránh thai vừa để nâng cao ý thức sử dụng phương tiện tránh thai của người dân, vừa góp phần thúc đẩy xu thế xã hội hóa công tác Dân số - KHHGĐ. Đồng thời, cần tổ chức lồng ghép có hiệu quả hơn nữa giữa công tác bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em, sức khỏe sinh sản với KHHGĐ và các chương trình y tế khác.
7. Cùng với nguồn kinh phí được trung ương và của tỉnh cân đối, có kế hoạch bổ sung thêm kinh phí để nâng cao, mở rộng chương trình Dân số - KHHGĐ; tích cực tranh thủ sự giúp đỡ đóng góp của cộng đồng phục vụ cho hoạt động Dân số - KHHGĐ, đồng thời phát động phong trào xây dựng quỹ dân số ở các cơ sở tạo thêm nguồn lực trực tiếp ở từng địa phương.
Trên đây là những nội dung chủ yếu triển khai có hiệu quả chính sách Dân số - KHHGĐ. Chủ tịch UBND các xã, thị trấn, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, trường học căn cứ triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả. Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện chịu trách nhiệm theo dõi, tổng hợp tình hình kết quả thực hiện và định kỳ báo cáo về UBND huyện./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Sở Y tế (b/c);
- Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh (B/c);
- Thường trực HU, HĐND huyện (b/c);
- Chủ tịch, PCT UBND huyện;
- BCĐTHCT dân số-KHHGĐ huyện;
-Lưu: VT.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH

( Đã ký)

Phạm Quốc Việt

Gia đình - đó là những viên gạch xây nên tòa lâu đài cho xã hội, là chỗ dựa về tinh thần và vật chất cho mỗi thành viên, gia đình là tổ ấm nơi các em bé được chăm sóc, nuôi dưỡng lớn lên như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình”.
Trong truyền thống, gia đình Việt Nam rất chú trọng xây dựng nếp nhà với gia đạo, gia phong và gia lễ; nó thấm đậm trong tâm hồn mỗi con người của gia đình, dòng họ, bởi vậy nó mang tính nhân văn cao cả. Giáo dục gia đình là sự trao truyền lối sống và kinh nghiệm sống dựa trên những chuẩn mực chung của xã hội (phép vua) của cộng đồng (lệ làng) và nếp nhà (gia phong) qua các thế hệ một cách tự nhiên và như một nhu cầu tồn tại.

Gia đình là cái nôi hình thành nhân cách con người (Ảnh internet).


Bữa cơm là nơi các thành viên trong gia đình thể hiện sự quan tâm,
chia sẻ và gắn kết tình cảm (Ảnh internet
Xuất phát từ truyền thống đạo lý mấy ngàn năm văn hiến cho đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 72/TTg ngày 04 tháng 5 năm 2001 chọn ngày 28/6 hàng năm là Ngày Gia đình Việt Nam, nhằm đề cao trách nhiệm của lãnh đạo các ngành, các cấp, các đoàn thể, các tổ chức xã hội cùng các gia đình để góp phần từng bước ổn định, củng cố, xây dựng gia đình theo tiêu chí ít con (mỗi cặp vợ chồng có một hoặc hai con), no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc. Hàng loạt các văn bản của Đảng, Nhà nước từ Trung ương đến các địa phương được ban hành nhằm đề cao trách nhiệm của lãnh đạo các ngành, các cấp, các đoàn thể, tổ chức xã hội và gia đình quan tâm xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững đồng thời tôn vinh các giá trị nhân văn sâu sắc của gia đình Việt Nam, đẩy mạnh tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện nếp sống văn minh, văn hóa ứng xử trong gia đình, cộng đồng, kế thừa truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, tiếp thu có chọn lọc các giá trị mới, tiến bộ tạo điều kiện mỗi gia đình Việt Nam thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội.
Ngày nay, việc thiết lập các mối quan hệ trong văn hoá gia đình cùng với các chức năng: sinh sản; nuôi dưỡng giáo dục con cái; thoả mãn nhu cầu tình cảm cho các thành viên gia đình và kinh tế đồng thời quan tâm giáo dục văn hoá trong các hoạt động sống của gia đình: văn hoá ẩm thực; giao tiếp ứng xử, văn hoá trang phục,sắp xếp nhà ở, các tiện nghi gia đình, thưởng thức văn hoá nghệ thuật vui chơi, giải trí, tham gia các hoạt động tôn giáo tín ngưỡng được lồng ghép trong cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”sẽ góp phần duy trì và phát triển văn hoá các nhóm cộng đồng xã hội dòng họ, làng xã, dân tộc, giai cấp.
Khẩu hiệu "Bữa cơm gia đình ấm áp yêu thương" đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chọn lựa là chủ đề của Ngày gia đình Việt Nam 28/6 năm nay. 
Chủ đề Ngày Gia đình Việt Nam năm nay gắn với chủ đề truyền thông về công tác gia đình năm 2014 là "Xây dựng nhân cách người Việt Namtừ giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình."
Thông qua chủ đề này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch mong muốn mỗi người Việt Nam trân trọng hơn những giây phút sum họp của mọi gia đình người Việt bên bữa cơm gia đình hạnh phúc, đầm ấm đồng thời nêu cao các giá trị vô giá của gia đình, đó là tình cảm của ông bà, cha mẹ, con cháu, vợ chồng, anh em, tôn kính các bậc sinh thành, yêu thương chăm sóc con trẻ. 
Truyền thống, văn hóa của người Việt Nam từ xưa tới nay vẫn coi bữa cơm là thành quả lao động của các thành viên trong gia đình, là nơi truyền-nhận kinh nghiệm giáo dục, đạo đức, lối sống trong gia đình. Bữa cơm cũng là nơi các thành viên trong gia đình thể hiện sự quan tâm, chia sẻ và gắn kết tình cảm.
Tên tuổi các vị anh hùng, các danh nhân, các bậc kỳ tài, các nhà cách mạng lỗi lạc đều xuất phát từ những gia đình có tính chất đặc biệt, tiềm ẩn trong những gia đình đó là sự giáo dục, chăm sóc của những người cha, người mẹ đã tảo tần nuôi con ăn học thành tài để ra giúp dân giúp nước. Gia đình có vai trò rất lớn trong việc hình thành và phát triển của xã hội, góp phần xây dựng, tô thắm, làm rạng rỡ thêm bản sắc văn hoá dân tộc; là nơi giữ gìn, vun đắp, phát huy những giá trị truyền thống quý báu của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam.

Hưởng ứng ngày gia đình Việt Nam, các cấp, các ngành, các cá nhân và mỗi gia đình hãy chăm lo, thực hiện tốt hơn nữa công tác Dân số-KHHGĐ để mỗi gia đình Việt Nam luôn là tổ ấm góp phần làm cho xã hội phồn vinh,giàu mạnh "Dân số- KHHGĐ vì sức khoẻ, hạnh phúc của mỗi gia đình và sự phát triển  bền vững của đất nước"
Diep Sunmellow (TTDS)

Hưng Nguyên có 23 xã, thị trấn, với thành phần dân cư đa dạng đặc thù như:Vùng sông nước, vùng có đông đồng bào giáo dân. Việc tăng cường các hoạt động truyền thông lồng ghép với cung ứng dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ luôn được quan tâm đúng mức
Những nỗ lực
Trước những thách thức trong công tác Dân số-KHHGĐ như hiện nay đó là tình hình sinh, sinh con thứ 3 trở lên, mất cân bằng giới tính khi sinh, chất lượng sức khỏe sinh sản của chị em phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ còn nhiều hạn chế, đặc biệt vùng sông nước phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh sản cao. Những năm gần đây, Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện phối hợp với Trung tâm Y tế triển khai các hoạt động cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ đến với người dân một cách thuận lợi, an toàn. Hàng năm, thông qua chiến dịch truyền thông lồng ghép cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ. Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đối tượng tham gia với nhiều hình thức khác nhau: Nhiều buổi truyền thông nói chuyện chuyên đề, các buổi giao lưu sân khấu hóa được tổ chức, hàng trăm buổi tư vấn nhóm, hàng nghìn đối tượng được tư vấn tại hộ gia đình. Cán bộ Viên chức dân số xã và CTV không quản ngày đêm, lồng ghép vào các chương trình các buổi sinh hoạt của các ban ngành đoàn thể.  Trung tâm y tế chịu trách nhiệm về chuyên môn, bố trí đội cung cấp dịch vụ lưu động. Ngoài ra, ở các Trạm y tế cơ sở cũng chủ động bố trí đội ngũ cán bộ, thời gian, địa điểm làm dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng được tham gia và hưởng lợi từ dịch vụ KHHGĐ.
Nhân tố quyết định thắng lợi
Trước đây, Trung tâm y tế khi đưa các dịch vụ chăm sóc SKSS về cơ sở gặp phải một khó khăn là đối tượng tham gia ít. Nhưng những năm gần đây nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa hai trung tâm, làm tốt công tác tuyên truyền vận động từ huyện tới cơ sở mà đối tượng tham gia các dịch vụ ngày càng đông.
Bác sỹ Nguyễn Thị Hòa-Trưởng khoa CSSKSS-Trung tâm y tế huyện đang siêu âm cho đối tượng
Mục tiêu yêu cầu của dịch vụ là: An toàn, thuận tiện, phục vụ tự nguyện và đạt hiệu quả cao. Ngoài việc đưa các dịch vụ như: Nội soi, siêu âm, xét nghiệm,..Trung tâm Y tế chủ động tư vấn, khám và thực hiện các BPTT miễn phí cho các đối tượng. Song song với các hoạt động trên, là hoạt động tuyên truyền tại chỗ các nội dung chuyển đổi hành vi trong lĩnh vực Dân số/SKSS/KHHGĐ.
Bên cạnh đội ngũ Y, bác sỹ, kỹ thuật viên được đào tạo bài bản của Trung tâm Y tế huyện thì tại trạm y tế xã, thị trấn có đủ nữ hộ sinh đảm bảo năng lực chuyên môn nên việc huy động đội kỹ thuật tham gia các đợt chiến dịch khám và điều trị phụ khoa trong các đợt cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ được đáp ứng thường xuyên và đầy đủ các loại hình dịch vụ cho đối tượng. Tất cả cán bộ được huy động đều trang bị kiến thức chuyên môn, có kỹ năng thao tác nhanh, gọn, tạo niềm tin cho người dân khi tham gia thực hiện các gói dịch vụ.
Quan trọng hơn nữa là, việc cung cấp các phương tiện tránh thai, thuốc men, hóa chất đầy đủ tạo điều kiện thuận lợi cho trạm y tế xã, thị trấn thực hiện tốt công tác chăm sóc SKSS/KHHGĐ tại cơ sở được liên tục và thường xuyên. Qua đó, ở cơ sở đã phát hiện sớm một số bệnh gửi lên tuyến trên điều trị sớm, nâng cao chất lượng sống cho người dân. Nhiều chị em đến Trạm y tế với gương mặt hồ hởi phấn khởi bởi mỗi năm một lần được đoàn dịch vụ về tư vấn, khám phụ khoa, thực hiện BPTT miễn phí, được thực hiện các dịch vụ chăm sóc SKSS thuận tiện không phải tốn nhiều thời gian xuống thành phố Vinh hay các đơn vị Y tế ở Trung tâm huyện.
Bác sĩ Nguyễn Thị Hòa - Trưởng khoa chăm sóc SKSS, Trung tâm Y tế huyện cho biết “Những năm gần đây, việc đưa các dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ về cơ sở gặp thuận lợi hơn nhiều nhờ sự phối hợp tốt với Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện, có thể nói rằng thành công có được ngoài vấn đề chuyên môn thì yếu tố chính là bởi ở sự ưu tiên đi trước một bước về công tác truyền thông vận động”
Lợi ích từ việc đưa dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ về cơ sở là rất lớn,  tuy nhiên để tiếp tục làm tốt và hiệu quả hơn nữa ngoài việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Y tế thì rất cần sự vào cuộc của các cấp các ngành các tổ chức đoàn thể để đối tượng ngày càng được tiếp cận với nhiều dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ chất lượng cao, hướng tới thực hiện mục tiêu  nâng cao chất lượng dân số, chất lượng giống nòi, góp phần làm cho Dân số ổn định, xã hội phồn vinh, gia đình hạnh phúc.
Cao Thị Nhung
Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện